Tự theo dõi khi có thai

  • 790

Nếu thai phụ mỗi tuần lên cân quá 400 g thì phải đi khám ngay vì có khả năng sinh đôi, đa ối hoặc nhiễm độc thai nghén. Để đề phòng, phụ nữ mang thai nên theo dõi thường xuyên cân nặng của mình.

(Ảnh: HTV)

Dưới đây là một số điều cần lưu ý khi theo dõi phụ nữ có thai

Tính số lần thai máy (thai đạp)

Thai động là biểu hiện thai nhi tồn tại. Việc mỗi ngày theo dõi xác định thai động có thể cho biết trước sự an nguy của thai; phương pháp này có một giá trị thực dụng rất lớn. Phụ nữ có thai nói chung phải đến tháng thứ 4-5 mới có thể cảm thấy thai máy. Càng đủ tháng thì thai máy càng khỏe. Khi chửa quá thai kỳ, hiện tượng thai động sẽ giảm đi chút ít, vì thế phải theo dõi ngay hoặc vào bệnh viện kiểm tra, xác định lại tình trạng của thai để có cách xử trí kịp thời.

Chiều cao đáy tử cung

Đo chiều cao đáy tử cung phải bắt đầu từ tuần 28 sau khi mang thai. Nếu người phụ nữ mang thai không thể đến bệnh viện kiểm tra theo dõi định kỳ thì việc đo này càng quan trọng hơn. Từ chính giữa bụng dưới (đáy tử cung) xuống đến xương mu là chiều cao đáy tử cung, đo mỗi tuần một lần. Bình thường nó sẽ tăng 0,5-1,5 cm. Nếu đo liên tục ba lần mà chiều cao đáy tử cung không tăng lên thì có khả năng thai nhi phát triển chậm. Nếu trong một tuần mà nó tăng quá 8 cm thì có thể do đa ối, cần đến bệnh viện kiểm tra ngay.

Một số triệu chứng khác

Trong thời kỳ mang thai, cơ thể người phụ nữ rất nhạy cảm, nếu thấy các triệu chứng sau đây thì cần phải đề cao cảnh giác, kịp thời đến bệnh viện điều trị:

Nôn mửa nhiều lần: Nôn mửa nhẹ là biểu hiện thường thấy nhất trong thời kỳ có thai ở giai đoạn đầu, qua vài tuần thì hết không cần điều trị gì. Nhưng nôn mửa nhiều lần và có tính liên tục, ăn vào thứ gì nôn ra thứ ấy, thậm chí kể cả nước uống thì có thể dẫn tới mất nước và điện giải, nguy hiểm đến tính mạng của cả mẹ và con, cần đi khám và điều trị ngay.

Đau bụng dưới: Đau bụng từng cơn, có cảm giác đau đẻ, kèm theo mỏi lưng, nhất là có hiện tượng chảy máu âm đạo có thể là dấu hiệu báo trước của sẩy thai hoặc sinh non, rau tiền đạo.

Phù nặng: Thời kỳ giữa và cuối của thời kỳ mang thai, người phụ nữ có thể bị xuống máu chân gây phù nhưng không khó chịu gì, đó là hiện tượng bình thường. Nhưng nếu phù nghiêm trọng có kèm tăng huyết áp phải nghĩ đến nhiễm độc thai nghén.

Cân nặng tăng quá nhanh: Nếu mỗi tuần lên cân quá 400 g thì có khả năng sinh đôi, đa ối hoặc nhiễm độc thai nghén, cần đi khám ngay.

Bị cảm, cúm, sởi: Trong ba bốn tháng đầu thai nghén nếu bị nhiễm sởi hoặc cúm thì rất dễ gây nguy hại cho thai nhi. Vì vậy, nếu xác định bị cúm hoặc sởi, nên đến khám tại khoa sản, bác sĩ có các biện pháp xử lý kịp thời.

Tiểu tiện khác thường: Nếu tiểu có cảm giác rát đau hoặc có đau bụng, bị lạnh và sốt, có khả năng bị viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Sợ hãi, thở ngắn: Cuối kỳ mang thai, nếu làm việc nặng, thai phụ thường có cảm giác sợ hãi, thở ngắn, hụt hơi. Phần nhiều đó là hiện tượng bình thường, nhưng nếu hoạt động nhẹ hoặc ở trạng thái nghỉ ngơi cũng bị hoảng hốt, thở ngắn rõ rệt hoặc tim đập mạnh khó thở đến mức không nằm được thì có thể nghĩ đến bệnh tim, cần phải khám và điều trị sớm.

Phát sốt, hạch lympho sưng to: Có thể nghĩ đến một bệnh nhiễm trùng nào đó. Nếu có mệt mỏi, vàng da, ăn kém, thì nghĩ đến bệnh viêm gan siêu vi, nên đến bệnh viện để kiểm tra

Âm đạo chảy ra chất như nước: Cần kiểm tra xem có phải là nước ối không, cần cảnh giác với màng thai bị rách sớm hoặc sinh non.

Âm đạo chảy máu: Nếu âm đạo chảy máu thì là hiện tượng không thể coi thường được. Nếu thấy đau bụng dưới thì có thể nghĩ đến sẩy thai, chửa ngoài dạ con, nhau thai bị rách sớm hoặc sinh non, cần phải đến bệnh viện ngay. Nhưng trong một tháng đầu mang thai, có thể có chút ít kinh nguyệt, nếu không thấy có triệu chứng gì khác thì đó là hiện tượng bình thường, không cần hoảng hốt.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai có thể thấy có những triệu chứng như co gân chân, bí đại tiện, giãn tĩnh mạch, thiếu máu. Các triệu chứng này đều là hiện tượng sinh lý, không nên dùng thuốc, nếu có phải theo chỉ định của bác sĩ.

Việc tự theo dõi quá trình mang thai của mình có tính khách quan hơn so với việc kiểm tra trước khi sinh tại bệnh viện. Sự kết hợp chặt chẽ hai việc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe cho phụ nữ mang thai.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống, TTO
  • 790

Theo dõi cộng đồng KhoaHoc.tv trên facebook