7 loại vi khuẩn kháng thuốc nguy hiểm

  • 388

Lao, đường ruột, lậu, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, ký sinh trùng sốt rét... là những vi khuẩn kháng thuốc cần cảnh giác. 

Vi khuẩn là "chuyên gia" trong việc thích nghi nhanh chóng với các loại thuốc dùng để tiêu diệt chúng. Do vậy, nếu không sử dụng đúng liều kháng sinh hoặc không đủ thời gian khuyến cáo thì có thể gây phản tác dụng, dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh. 

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), kháng kháng sinh đang là một mối lo ngại lớn về sức khỏe cộng đồng.

7 loại khuẩn kháng thuốc nguy hiểm nhất hiện nay, theo Everyday health.

Clostridium Difficile (C.diff)


Vi khuẩn C.diff. (Ảnh: everydayhealth).

C.diff  có thể lây truyền qua việc sử dụng chung phòng tắm với những người bị nhiễm. Do đó bạn luôn giữ gìn vệ sinh cá nhân, đặc biệt trong môi trường y tế. Uống kháng sinh đúng cách và bổ sung men vi sinh để ngăn ngừa nhiễm C. diff.Đây là một loại vi khuẩn sống trong ruột. Theo nghiên cứu trên tạp chí y khoa New England, C.diff gây ra trên 450.000 ca nhiễm khuẩn đường ruột mỗi năm ở Mỹ. Biểu hiện là đau quặn bụng, viêm hoặc tiêu chảy.

CDC khuyến cáo bạn nên đi khám nếu bị tiêu chảy trong 3 tháng sử dụng kháng sinh.

Nhóm vi khuẩn đường ruột kháng Carbapenem (Enterobacteriaceae - CRE)

Nhóm vi khuẩn này gây nhiễm trùng phổi, da, bàng quang và máu. E.coli và Klebsiella là hai loại vi khuẩn đường ruột phổ biến nhất.

CDC xếp nhóm vi khuẩn này trong nhóm "mối đe dọa nghiêm trọng" vì chúng có thể kháng lại các loại kháng sinh thông thường tương tự penicillin. CRE dễ lây nhiễm trong môi trường y tế như bệnh viện. Nên chủ động phòng ngừa, vệ sinh thiết bị y tế đúng cách, thường xuyên giữ vệ sinh cả nhân viên y tế lẫn người bệnh. 

Siêu vi khuẩn lậu kháng thuốc (Neisseria gonorrhoeae)

Đây là nhóm vi khuẩn lây qua đường tình dục gây ra các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đường sinh dục, nhiễm khuẩn trực tràng, vô sinh ở cả nam và nữ nếu không được chữa trị.

Theo CDC, các loại thuốc có thể chữa khỏi loại nhiễm trùng này đang giảm đáng kể do tình trạng kháng thuốc. Tránh nhiễm khuẩn gonorrhoeae bằng cách quan hệ tình dục an toàn như sử dụng bao cao su...

Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus aureus) kháng Methicillin (MRSA)

Tụ cầu khuẩn
Tụ cầu khuẩn.

MRSA lây truyền qua những dụng cụ y tế, dùng chung dao cạo râu hoặc những vật dụng cá nhân khác. Nên giữ vết thương sạch sẽ, băng bó cẩn thận và vệ sinh tốt, đặc biệt trong môi trường tập thể như trại hè, ký túc xá, doanh trại quân đội.Khoảng 2% người có vi khuẩn MRSA trong mũi và trên da. Nếu chúng xâm nhập vào những vết thương hở hoặc hệ miễn dịch không thể kiểm soát được thì gây viêm da và nhiễm trùng máu.

Phế cầu khuẩn (Streptococcus Pneumoniae)

Ho là con đường lây truyền phế cầu khuẩn phổ biến nhất. Chúng có thể gây viêm tai, viêm xoang, viêm phổi và viêm màng não.

Thông thường, tiêm vắcxin phế cầu có thể giảm nguy cơ lây lan phế cầu khuẩn kháng thuốc. Liều vắcxin mạnh hơn thường được khuyến cáo dành cho những người trên 65 tuổi. Đây là nhóm tuổi có nguy cơ cao nhiễm phế cầu khuẩn.

Ký sinh trùng sốt rét

Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng sốt rét.

Ký sinh trùng sốt rét gây sốt, mệt mỏi rã rời, buồn nôn và nôn mửa. Sốt rét nguy hiểm với trẻ em dưới 5 tuổi. Tỷ lệ tử vong do sốt rét đã giảm đáng kể trong thập kỷ qua song vẫn cướp đi sinh mạng khoảng 584.000 người trên thế giới năm 2013. Cách tốt nhất để phòng tránh sốt rét là sử dụng màn chống muỗi khi ngủ ở những vùng lưu hành dịch.Sốt rét là bệnh gây ra bởi các ký sinh trùng truyền qua trung gian truyền bệnh là muỗi. Có 5 loại ký sinh trùng gây sốt rét. Ba trong số 5 loại đó hiện nay đã kháng lại thuốc chống sốt rét.

Lao đa kháng thuốc (MDR) và lao đa kháng thuốc lan rộng (XDR)

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lao là bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong thứ hai thế giới. CDC ước tính hiện có trên 480.000 ca lao đa kháng thuốc trên toàn cầu, khoảng một nửa trong số đó được chữa khỏi.

Vi khuẩn lao có thể lây truyền qua ho, hắt xì nên nguy hiểm với những người có hệ miễn dịch bị suy yếu. Thời gian ủ bệnh lao khá dài, người có nguy cơ nên đi khám và làm xét nghiệm để chẩn đoán bệnh sớm. 

Cập nhật: 26/03/2019 Theo VNE
  • 388

Theo dõi cộng đồng KhoaHoc.tv trên facebook